Rich Internet applications Web

Just another WordPress.com weblog

Khái niệm DNS Tháng tám 31, 2008

Chuyên mục: Domain/ Hosting — riasweb @ 10:56 chiều
Tags:

Mỗi máy tính, thiết bị mạng tham gia vào mạng Internet đều “nói chuyện” với nhau bằng địa chỉ IP (Internet Protocol) .
Để thuận tiện cho việc sử dụng và dễ nhớ ta dùng tên (domain name) để xác định thiết bị đó. Hệ thống tên miền DNS (Domain Name System) được sử dụng để ánh xạ tên miền thành địa chỉ IP. Vì vậy, khi muốn liên hệ tới các máy, chúng chỉ cần sử dụng chuỗi ký tự dễ nhớ (domain name) như: www.microsoft.com, www.ibm.com…, thay vì sử dụng địa chỉ IP là một dãy số dài khó nhớ.
Máy chủ phân giải tên miền (DNS Server) là những máy chủ được cài đặt, và cung cấp dịch vụ phân giải tên miền DNS. Máy chủ DNS được phân ra thành 2 loại như sau :

Primary DNS Server (PDS)
Primary DNS Server (PDS) là nguồn xác thực thông tin chính thức cho các tên miền mà nó được phép quản lý. Thông tin về một tên miền do PDS được phân cấp quản lý thì được lưu trữ tại đây và sau đó có thể được chuyển sang các Secondary DNS Server (SDS).
Các tên miền do PDS quản lý thì được tạo, và sửa đổi tại PDS và sau đó được cập nhật đến các SDS .

Secondary DNS Server (SDS)
DNS được khuyến nghị nên sử dụng ít nhất là hai DNS server để lưu địa chỉ cho mỗi một vùng (zone). PDS quản lý các vùng và SDS được sử dụng để lưu trữ dự phòng cho vùng, và cho cả PDS. SDS không nhất thiết phải có nhưng khuyến khích hãy sử dụng . SDS được phép quản lý tên miền nhưng dữ liệu về tên miền không phải được tạo ra từ SDS mà được lấy về từ PDS.
PDS có thể cung cấp các hoạt động ở chế độ không tải trên mạng. Khi lượng truy vấn vùng (zone) tăng cao, PDS sẽ chuyển bớt tải sang SDS (quá trình này còn được gọi là cân bằng tải), hoặc khi PDS bị sự cố thì SDS hoạt động thay thế cho đến khi PDS hoạt động trở lại .
SDS thường được sử dụng tại nơi gần với các máy trạm (client) để có thể phục vụ cho các truy vấn một cách dễ dàng. Tuy nhiên, cài đặt SDS trên cùng một subnet hoặc cùng một kết nối với PDS là không nên. Điều đó sẽ là một giải pháp tốt để dự phòng cho PDS, vì khi kết nối đến PDS bị hỏng thì cũng không ảnh hưởng gì tới đến SDS.
Ngoài ra, PDS luôn duy trì một lượng lớn dữ liệu và thường xuyên thay đổi hoặc thêm các địa chỉ mới vào các vùng. Do đó, DNS server sử dụng một cơ chế cho phép chuyển các thông tin từ PDS sang SDS và lưu giữ trên đĩa. Khi cần phục hồi dữ liệuvề các vùng, chúng ta có thể sử dụng giải pháp lấy toàn bộ ( full ) hoặc chỉ lấy phần thay đổi (incrememtal).

(vietnamnet)

 

Những khái niệm về domain Tháng tám 31, 2008

Chuyên mục: Domain/ Hosting — riasweb @ 10:35 chiều
Tags:

Domain name

Khái niệm “tên miền” hay Domain Name có nhiều nghĩa, tất cả đều liên quan đến:
* Một cái tên được người dùng nhập vào máy tính (như một phần tên trang Web hoặc các URL khác, hoặc một địa chỉ thư điện tử, v.v.) và sau đó sẽ được dò tìm trong Hệ thống Tên miền (DNS) toàn cầu để cung cấp (các) địa chỉ IP của cái tên đó cho máy tính.
* Một cái tên được dò tìm trong hệ thống DNS vì những mục đích khác.Đôi khi chúng còn được gọi (sai) theo thói quen là “địa chỉ Web.”
* Định nghĩa chính thức được cung cấp trong các tài liệu RFC định nghĩa hệ thống DNS.

Ví dụ:
Ví dụ sau đây minh họa sự khác biệt giữa một URL (địa chỉ Web) với một tên miền:
URL: http://www.digipower.vn
Tên miền: Digipower.vn

Tên miền Internal và tên miền external có khác nhau không ?
Hoàn toàn khác nhau.
- Tên miền internal được sử dụng trong hệ thống mạng LAN với mục đích comunicate giữa các servers – servers, servers – clients, sites – sites…nhiều hơn.
- Tên miền external được sử dụng trong mục đích communicate WAN và thường dùng trong việc hosting website, email…

Tôi có thể sử dụng một server do tôi tự build Domain Controller rồi dùng domain này để truy cập bên ngoài được không ?
Câu trả lời dĩ nhiên là không, vì tên miền internal và external là 2 khái niệm hoàn toàn khác biệt và không liên quan đến nhau. Một server làm Domain Controller trong internal có thể hiểu được domain external nhưng ngược lại thì không được.

Vậy làm thế nào để có một tên miền external ?
Để có một tên miền external bạn có thể liên hệ với các registra chuyên cung cấp Domain Service như Digipower.VN. Tại đó họ có thể tư vấn cho bạn. Và tất nhiên là sẽ tốn một khoản phí để có được domain đó. Tùy thuộc vào nhu cầu của bạn sẽ có những mức fee khác nhau.

VD: Domain quốc tế (.com .net .org .info…) thì sẽ có mức phí là 9,9$/1 năm. Domain dot VN: thì sẽ có mức phí cao hơn so với domain quốc tế. Để biết chi tiết và update prices hiện tại thì bạn có thể contact trực tiếp với Registra trên.

Thường sau khi đăng ký thì trong bao lâu thì dịch vụ sẽ được active ?
Đối với domain quốc tế thì trong vòng maximum là 24 tiếng thì domain sẽ được kích hoạt. Còn đối với domain dot VN thì phụ thuộc vào VNNIC nên thời gian sẽ giao động từ 1 ngày đến 3 ngày.

Khi đăng ký một domain thì ta sẽ nhận được những thông tin gì ?
Khi đăng ký dịch vụ của Digipower thì khách hàng sẽ nhận được thông tin login vào control panel của domain và thông tin login vào Control Panel DNS của domain. Tại Control Panel DNS khách hàng sẽ trỏ các record về host sao cho phù hợp với mục đích sử dụng của mình.

Cấu tạo tên miền
Tên miền bao gồm nhiều thành phần cấu tạo nên cách nhau bởi dấu chấm (.) ví dụ 3c.com.vn là tên miền máy chủ Web của 3C. Thành phần thứ nhất “3C” là tên của máy chủ , thành phần thứ hai “com” thường gọi là tên miền mức hai (second domain name level), thành phần cuối cùng “vn” là tên miền mức cao nhất (top level domain name).

1.Tên miền mức cao nhất (Top- level Domain “TLD”) bao gồm các mã quốc gia của các nước tham gia Internet được quy định bằng hai chữ cái theo tiêu chuẩn ISO -3166 như Việt nam là VN, Anh quốc là UK v.v.. và 7 lĩnh vực dùng chung (World Wide Generic Domains), trong đó có 5 dùng chung cho toàn cầu và 2 chỉ dùng ở Mỹ.
a/ Dùng chung.
1- COM : Thương mại ( Commercial)
2- EDU : Giáo dục ( education )
3- NET : Mạng lưới ( Network )
4- INT : Các tổ chức quốc tế ( International Organisations )
5- ORG : Các tổ chức khác ( other orgnizations )
b/ Dùng ở Mỹ
6- MIL : Quân sự ( Military )
7- GOV : Nhà nước ( Government )
2.Tên miền mức hai ( Second Level ) : Đối với các quốc gia nói chung tên miền mức hai này do Tổ chức quản lý mạng của quốc gia đó định nghĩa, có thể định nghĩa khác đi, nhiều hơn hay ít đi nhưng thông thường các quốc gia vẫn định nghĩa các Lĩnh vực kinh tế, xã hội của mình tương tự như 7 lĩnh vực dùng chung nêu trên.

Các loại domain
Domain name cấp cao nhất là tên miền bạn đăng ký trực tiếp với các nhà cung cấp Domain name. Theo sau ngay phần tên bạn tùy chọn là phần TLD (Top Level Domain) có dạng: .com, .net, .org, .gov, .edu, .info, .tv, .biz,… hoặc các TLD kết hợp với ký hiệu viết tắt của quốc gia: .com.vn, .net.vn, .org.vn, .gov.vn,…
Ví dụ:
www.3c.com.vn
www.yahoo.com
www.hosting.net.vn
www.electric.vn
Được coi là các tên miền cấp cao nhất. Các tên miền cấp cao nhất thể hiện sự chuyên nghiệp và uy tín trong kinh doanh trên Internet của các doanh nghiệp.

Domain name thứ cấp
Là tất cả những loại Domain name còn lại mà domain đó phải phụ thuộc vào một Domain name cấp cao nhất. Để đăng ký các Domain name kiểu này, thông thường bạn phải liên hệ trực tiếp với người quản lý Domain name cấp cao nhất.
Ví dụ:
http://demo.3c.com.vn
http://hanitel.com.vn
Được coi là những tên miền thứ cấp.

(Tham khảo: http://www.nhatnghe.com/FORUM/showthread.php?t=25097 và thegioiweb.vn)

 

Khái niệm domain name Tháng tám 31, 2008

Chuyên mục: Domain/ Hosting — riasweb @ 10:27 chiều
Tags:

Tên miền là một địa chỉ Website trên Internet giúp mọi người tìm kiếm và ghi nhớ một cách dễ dàng trong xa lộ thông tin rộng lớn. Tên miền đối với công ty thường là thương hiệu độc quyền trên internet.

Như chúng ta đã biết Internet là một mạng máy tính toàn cầu , do hàng nghìn mạng máy tính từ khắp mọi nơi nối lại tạo nên . Khác với cách tổ chức theo các cấp : nội hạt, liên tỉnh, quốc tế của một mạng viễn thông như mạng thoại chẳng hạn, mạng Internet tổ chức chỉ có một cấp, các mạng máy tính dù nhỏ, dù to khi nối vào Internet đều bình đẳng với nhau. Do cách tổ chức như vậy nên trên Internet có cấu trúc địa chỉ , cách đánh địa chỉ đặc biệt , rất khác cách tổ chức địa chỉ của mạng viễn thông.
Địa chỉ Internet (IP) đang được sử dụng hiện tại là (IPv4) có 32 bit chia thành 4 Octet ( mỗi Octet có 8 bit , tương đương 1 byte ) cách đếm đều từ trái qua phải bít 1 cho đến bít 32, các Octet tách biệt nhau bằng dấu chấm (.) và biểu hiện ở dạng thập phân đầy đủ là 12 chữ số.
Ví dụ một địa chỉ Internet : 146.123.110.224
(Địa chỉ IP tương lai được sử dụng là IPv6 có 128 bit dài gấp 4 lần của IPv4. Version IPv4 có khả năng cung cấp 232 = 4 294 967 296 địa chỉ. Còn Version IPv6 có khả năng cung cấp 2 128 địa chỉ ).
Do người sử dụng nhớ được địa chỉ dạng chữ số dài như vậy khi nối mạng là rất khó khăn và vì thế cạnh địa chỉ IP bao giờ cũng có thêm một cái tên mang một ý nghĩa nào đó, dễ nhớ cho người sử dụng đi kèm mà trên Internet gọi là Tên Miền. Ví dụ: Máy chủ Web Server của VDC đang chứa Báo Quê hương có địa chỉ là 203.162.000.012 , tên Miền của nó là home.vnn.vn . Thực tế người sử dụng không cần biết đến địa chỉ IP mà chỉ cần nhớ tên Miền là truy nhập được.
Vậy tên Miền là một danh từ dịch theo kiểu nghĩa của từng từ một (Word by Word) từ tiếng anh (Domain name). Thực chất tên miền là sự nhận dạng vị trí của một máy tính trên mạng Internet nói cách khác tên miền là tên của các mạng lưới, tên của các máy chủ trên mạng Internet.
Do tính chất chỉ có 1 và 1 duy nhất trên Internet, bạn không thể đăng ký được Domain name khi mà người khác đã là chủ sở hữu. Nếu bạn cần đăng ký 1 domain name tương ứng với tên doanh nghiệp của bạn trên Internet, hãy kiểm tra và đăng ký ngay lập tức trước khi người khác đăng ký mất tên miền đó của bạn.

(thegioiweb.vn)

 

Một số khái niệm về Website và Internet Tháng tám 30, 2008

Chuyên mục: Công nghệ Web — riasweb @ 11:51 sáng
Tags: ,

1. Khái niệm về Website:
Những khái niệm như cửa hàng, siêu thị, thư viện, nhà máy, … đã quá quen thuộc với chúng ta. Nhưng đó chỉ là thế giới vật chất, còn trong thế giới của thông tin với hệ thống giao thông mạng Internet, những khái niệm đó được tổng hợp chung vào trong từ “WEBSITE”. Chúng ta sẽ có WEBSITE cửa hàng, WEBSITE siêu thị, WEBSITE thư viện, WEBSITE nhà máy, WEBSITE cá nhân, … và bạn có thể tiếp tục danh sách này thay chúng tôi.

2- Địa chỉ của một WEBSITE hay vị trí của cửa hàng trên internet – còn gọi là tên miền (Domain name):
Khi so sánh internet với mội trường kinh doanh truyền thống, chúng ta có thể tự đặt câu hỏi, thế trên internet có những khái niệm như vị trí tốt xấu không, có nhà trung tâm, nhà ngoại ô không. Có! và đó là điều đáng để suy nghĩ, không nhanh chân chúng ta sẽ không còn chỗ, hoặc là phải mua lại với giá rất đắt. Đó là gì vậy? Chính là địa chỉ của WEBSITE. Ví dụ như www.dtcvn.net hay www.admin.com.vn. Tên của WEBSITE không được trùng nhau, trong khi đó tên viết tắt của các công ty thì trùng nhau quá nhiều, và ai cũng muốn tạo cho mình một địa chỉ thật dễ nhớ. Kết quả là người chậm chân mất quyền ưu tiên, không mua được địa chỉ đó.
Một địa chỉ dễ nhớ giữ vai trò rất quan trọng trong việc giới thiệu một WEBSITE. Địa chỉ nhớ thông thường phải ngắn gọn hoặc có ý nghĩa. Nếu doanh nghiệp đã có thương hiệu khá nổi tiếng thì nên dùng ngay thương hiệu của mình. Vậy điều đầu tiên cần làm là kiểm tra tên công ty mình còn không, nếu may mắn chưa bị ai chiếm chỗ hãy đăng ký ngay, đừng chậm trễ.

3- Nơi lưu trữ WEBSITE (Hosting):
Công trình thiết kế web đã hoàn tất, bạn cần đưa nó lên mạng, bạn cần một nơi để cất giữ thông tin của WEBSITE để khi người xem gõ đúng địa chỉ WEBSITE lập tức trang web của bạn được tìm thấy thì được gọi là Hosting. Chúng tôi ví von nơi lưu trữ WEBSITE trên internet (Host) là nhà, còn địa chỉ WEBSITE (domain name) chính là địa chỉ nhà. Hai khái niệmHai khái niệm này luôn đi đôi với nhau thì người ta mới tìm thấy nội dung WEBSITE của bạn trên internet, ví như có nhà mà không có địa chỉ thì cũng không ai tìm được, có địa chỉ mà không có nhà thì không biết tìm ai…

4- Giao diện WEBSITE:
Chính là cái mà chúng ta thấy nó ở trên trang web, là khung được trang trí cho trang web. Được thiết kế bởi những designer với các khung, bảng, mầu và chữ, … Các giao diện website thường có kích thước bề ngang chuẩn là 800 pixel hoặc 1024 pixel, nhưng cũng có một số website không theo chuẩn này mà thiết kế tự động giãn theo kích thước màn hình. Để có 1 giao diện website đẹp, cần rất nhiều yếu tố cấu thành, trong đó ý tưởng của người chủ website là quan trọng nhất.

5- WEBSITE tĩnh và WEBSITE động:
WEBSITE tĩnh: là dạng WEBSITE mà nội dung của nó là cố định, để thay đổi cần có kiến thức về web, người sử dụng không thể sửa chữa trực tiếp trên inetrnet.

WEBSITE động: là dạng WEBSITE mà sau khi thiết kế, người sử dụng có thể thêm – xóa – sửa nội dung thông qua một phần mềm quản lý mà không cần có nhiều kiến thức về thiết kế web.

6- Khái niệm thương mại điện tử:
Nếu một trong những công đoạn của giao dịch thương mại như tìm kiếm đối tác, thỏa thuận hợp đồng, trao đổi hàng hóa và dịch vụ, thanh toán, được thực hiện bằng công cụ điện tử thì giao dịch thương mại đó có thể được coi là thương mại điện tử. Bạn gửi fax cho các khách hàng tiềm năng để chào hàng, bạn thỏa thuận chi tiết hợp đồng qua hệ thống ngân hàng, tất cả những việc đó đều thuộc phạm trù của thương mại điện tử với ý nghĩa tổng quát của nó.

Chỉ sau internet ra đời và được phổ biến rộng rãi thì thương mại điện tử mới thực sự có bước nhảy vọt. Khái niệm thương mại điện tử hiện nay hàm ý thương mại internet nhiều hơn. Theo thống kê của IDC và OECD, với internet, thương mại điện tử đã đạt mức tăng trưởng từ 50 tỷ USD vào năm 1998, lên đến 111 tỷ năm 1999 và dự tính sẽ đạt mức 1000 tỷ USD vào những năm 2003-2005. Qua hệ thống internet với hàng trăm triệu máy tính trên khắp các châu lục, các doanh nhân ngày nay đã thật sự có một công cụ đặc biệt hữu hiệu để giao dịch.

7- Tìm kiếm và Quảng bá WEBSITE trên Internet (Search Engine):
Ta hãy xem internet có thể giúp các doanh nghiệp điều gì.

Tìm là thấy ngay
Ngày nay, chúng ta có thể tìm đối tác một cách dễ dàng hơn thông qua các công cụ tìm kiếm trên internet, đặc biệt là đối tác tại các nước phát triển, nơi có tỷ lệ phổ cập internet rất cao. Bạn chỉ cần vào một trong những công cụ tìm kiếm như www.google.com hoặc www.yahoo.com, gõ vào từ khóa liên quan đến vấn đề cần tìm, chỉ vài giây sau bạn đã có một danh sách dài ngoằng. Sau vài giờ phân loại, sàng lọc thông tin, bạn đã có thể có trong tay một danh sách các đối tác tiềm năng. So với cách làm truyền thống qua danh bạ điện thoại, catalog thì việc tìm kiếm trên internet nhanh chóng và hiệu quả hơn nhiều.

Quảng bá trên internet
Trên thế giới có hàng triệu triệu WEBSITE đủ mọi lĩnh vực, tìm sao để thấy ngay WEBSITE của bạn ngay trang đầu tiên tìm kiếm? Chúng tôi tự hào vì đã làm hài lòng khách hàng của mình trong dịch vụ này. Và nhờ đó mà họ có rất nhiều đối tác trong kinh doanh thông qua WEBSITE của họ.

(dtc.vnn.vn)