Rich Internet applications Web

Just another WordPress.com weblog

Một số khái niệm về Website và Internet Tháng tám 30, 2008

Chuyên mục: Công nghệ Web — riasweb @ 11:51 sáng
Tags: ,

1. Khái niệm về Website:
Những khái niệm như cửa hàng, siêu thị, thư viện, nhà máy, … đã quá quen thuộc với chúng ta. Nhưng đó chỉ là thế giới vật chất, còn trong thế giới của thông tin với hệ thống giao thông mạng Internet, những khái niệm đó được tổng hợp chung vào trong từ “WEBSITE”. Chúng ta sẽ có WEBSITE cửa hàng, WEBSITE siêu thị, WEBSITE thư viện, WEBSITE nhà máy, WEBSITE cá nhân, … và bạn có thể tiếp tục danh sách này thay chúng tôi.

2- Địa chỉ của một WEBSITE hay vị trí của cửa hàng trên internet – còn gọi là tên miền (Domain name):
Khi so sánh internet với mội trường kinh doanh truyền thống, chúng ta có thể tự đặt câu hỏi, thế trên internet có những khái niệm như vị trí tốt xấu không, có nhà trung tâm, nhà ngoại ô không. Có! và đó là điều đáng để suy nghĩ, không nhanh chân chúng ta sẽ không còn chỗ, hoặc là phải mua lại với giá rất đắt. Đó là gì vậy? Chính là địa chỉ của WEBSITE. Ví dụ như www.dtcvn.net hay www.admin.com.vn. Tên của WEBSITE không được trùng nhau, trong khi đó tên viết tắt của các công ty thì trùng nhau quá nhiều, và ai cũng muốn tạo cho mình một địa chỉ thật dễ nhớ. Kết quả là người chậm chân mất quyền ưu tiên, không mua được địa chỉ đó.
Một địa chỉ dễ nhớ giữ vai trò rất quan trọng trong việc giới thiệu một WEBSITE. Địa chỉ nhớ thông thường phải ngắn gọn hoặc có ý nghĩa. Nếu doanh nghiệp đã có thương hiệu khá nổi tiếng thì nên dùng ngay thương hiệu của mình. Vậy điều đầu tiên cần làm là kiểm tra tên công ty mình còn không, nếu may mắn chưa bị ai chiếm chỗ hãy đăng ký ngay, đừng chậm trễ.

3- Nơi lưu trữ WEBSITE (Hosting):
Công trình thiết kế web đã hoàn tất, bạn cần đưa nó lên mạng, bạn cần một nơi để cất giữ thông tin của WEBSITE để khi người xem gõ đúng địa chỉ WEBSITE lập tức trang web của bạn được tìm thấy thì được gọi là Hosting. Chúng tôi ví von nơi lưu trữ WEBSITE trên internet (Host) là nhà, còn địa chỉ WEBSITE (domain name) chính là địa chỉ nhà. Hai khái niệmHai khái niệm này luôn đi đôi với nhau thì người ta mới tìm thấy nội dung WEBSITE của bạn trên internet, ví như có nhà mà không có địa chỉ thì cũng không ai tìm được, có địa chỉ mà không có nhà thì không biết tìm ai…

4- Giao diện WEBSITE:
Chính là cái mà chúng ta thấy nó ở trên trang web, là khung được trang trí cho trang web. Được thiết kế bởi những designer với các khung, bảng, mầu và chữ, … Các giao diện website thường có kích thước bề ngang chuẩn là 800 pixel hoặc 1024 pixel, nhưng cũng có một số website không theo chuẩn này mà thiết kế tự động giãn theo kích thước màn hình. Để có 1 giao diện website đẹp, cần rất nhiều yếu tố cấu thành, trong đó ý tưởng của người chủ website là quan trọng nhất.

5- WEBSITE tĩnh và WEBSITE động:
WEBSITE tĩnh: là dạng WEBSITE mà nội dung của nó là cố định, để thay đổi cần có kiến thức về web, người sử dụng không thể sửa chữa trực tiếp trên inetrnet.

WEBSITE động: là dạng WEBSITE mà sau khi thiết kế, người sử dụng có thể thêm – xóa – sửa nội dung thông qua một phần mềm quản lý mà không cần có nhiều kiến thức về thiết kế web.

6- Khái niệm thương mại điện tử:
Nếu một trong những công đoạn của giao dịch thương mại như tìm kiếm đối tác, thỏa thuận hợp đồng, trao đổi hàng hóa và dịch vụ, thanh toán, được thực hiện bằng công cụ điện tử thì giao dịch thương mại đó có thể được coi là thương mại điện tử. Bạn gửi fax cho các khách hàng tiềm năng để chào hàng, bạn thỏa thuận chi tiết hợp đồng qua hệ thống ngân hàng, tất cả những việc đó đều thuộc phạm trù của thương mại điện tử với ý nghĩa tổng quát của nó.

Chỉ sau internet ra đời và được phổ biến rộng rãi thì thương mại điện tử mới thực sự có bước nhảy vọt. Khái niệm thương mại điện tử hiện nay hàm ý thương mại internet nhiều hơn. Theo thống kê của IDC và OECD, với internet, thương mại điện tử đã đạt mức tăng trưởng từ 50 tỷ USD vào năm 1998, lên đến 111 tỷ năm 1999 và dự tính sẽ đạt mức 1000 tỷ USD vào những năm 2003-2005. Qua hệ thống internet với hàng trăm triệu máy tính trên khắp các châu lục, các doanh nhân ngày nay đã thật sự có một công cụ đặc biệt hữu hiệu để giao dịch.

7- Tìm kiếm và Quảng bá WEBSITE trên Internet (Search Engine):
Ta hãy xem internet có thể giúp các doanh nghiệp điều gì.

Tìm là thấy ngay
Ngày nay, chúng ta có thể tìm đối tác một cách dễ dàng hơn thông qua các công cụ tìm kiếm trên internet, đặc biệt là đối tác tại các nước phát triển, nơi có tỷ lệ phổ cập internet rất cao. Bạn chỉ cần vào một trong những công cụ tìm kiếm như www.google.com hoặc www.yahoo.com, gõ vào từ khóa liên quan đến vấn đề cần tìm, chỉ vài giây sau bạn đã có một danh sách dài ngoằng. Sau vài giờ phân loại, sàng lọc thông tin, bạn đã có thể có trong tay một danh sách các đối tác tiềm năng. So với cách làm truyền thống qua danh bạ điện thoại, catalog thì việc tìm kiếm trên internet nhanh chóng và hiệu quả hơn nhiều.

Quảng bá trên internet
Trên thế giới có hàng triệu triệu WEBSITE đủ mọi lĩnh vực, tìm sao để thấy ngay WEBSITE của bạn ngay trang đầu tiên tìm kiếm? Chúng tôi tự hào vì đã làm hài lòng khách hàng của mình trong dịch vụ này. Và nhờ đó mà họ có rất nhiều đối tác trong kinh doanh thông qua WEBSITE của họ.

(dtc.vnn.vn)

 

Công nghệ web 3.0 Tháng tám 30, 2008

Chuyên mục: Công nghệ Web — riasweb @ 11:23 sáng
Tags:

Khi khái niệm Web 2.0 còn chưa thực sự là điều dễ hiểu thì những ý tưởng về “chân dung” mạng thông tin toàn cầu thế hệ tiếp theo đã xuất hiện. Giới quan sát cho rằng, trong 10 năm tới, tương lai của World Wide Web sẽ định hình với môi trường ba chiều và sự giao thoa của thế giới ảo với đời thực.Cách đây một thập kỷ, Internet bắt đầu chứng kiến sự chuyển biến cơ bản với trào lưu Web 2.0 khi các dạng thông tin như wiki, blog, game nhập vai trực tuyến… làm thay đổi hẳn quan niệm về báo chí, mua bán, ngân hàng…, mở ra vô số cơ hội cho những ngành nghề khác nhau.

Web 2.0 đang ở vào giai đoạn mà những doanh nghiệp nhỏ xuất hiện như nấm và giành được những thành công to lớn, giống như Web 1.0 của năm 1997 trong cuộc “bùng nổ dotcom”. Những hiện thân tiêu biểu của Web 2.0 hiện nay là trang chia sẻ phim cá nhân YouTube, mạng giao lưu MySpace, trang trao đổi hình ảnh Flickr, từ điển bách khoa Wikipedia… với 2 đặc tính chung nổi bật là sự “tương tác” và “chia sẻ”.

Ngay ở giai đoạn Web 1.0, những công ty lớn cũng đã nhận thấy Internet không phải là thứ đồ chơi của giới công nghệ mà thực sự là kênh phân phối sản phẩm, dịch vụ nhiều hình thức. Vì thế, họ đã chủ động tham gia vào xu hướng này và kết quả là gần như mọi loại hình kinh doanh cơ bản hiện nay đều phần nào có sự hiện diện hoặc mang hơi hướng của web.

Với Web 2.0, các doanh nghiệp có thể tạo ra những cộng đồng khách hàng mới, thiết kế sản phẩm, bán hàng, quảng bá thông tin, hỗ trợ lẫn nhau khai thác dịch vụ và khắc phục những khiếm khuyết… Ví dụ, các công ty sản xuất đồ thể thao như Nike hay Adidas hiểu rằng hầu hết những giá trị gia tăng của họ không nằm trong khâu sản xuất mà phụ thuộc vào yếu tố thiết kế thời trang. Và thế là thay vì chỉ tìm cách tạo ra mẫu giày thì họ đem đến cho giới trẻ công cụ tự thiết kế và chiêm ngưỡng sản phẩm của mỗi cá nhân thông qua môi trường trực tuyến. Sau đó, những ý tưởng này có thể được nhà sản xuất triển khai thành mặt hàng cụ thể, đáp ứng đúng nhu cầu của người tiêu dùng. Điều đó phản ánh một phần vai trò công cụ hỗ trợ của web thế hệ 2.

Một trong những yếu tố then chốt mà nhiều chuyên gia cho rằng sẽ đưa web sang giai đoạn 3.0 chính là việc sử dụng rộng rãi môi trường không gian 3 chiều (3D) dưới dạng nền trình duyệt. Hiện tại, mọi người đang duyệt web trong môi trường 2D. Với băng thông và sức mạnh điện toán ngày càng mạnh cùng những công nghệ khác đang không ngừng được cải tiến, việc thiết lập không gian ba chiều cho web là việc không còn quá xa. Viễn cảnh tiêu biểu cho điều này là hình ảnh một người tiêu dùng lấy xuống khỏi giá trưng bày và mặc thử một chiếc áo sơ mi, soi trong gương ảo xem có vừa không rồi mới quyết định mua.

Không chỉ có vấn đề thương mại, khía cạnh tình cảm của con người cũng đã lan tỏa vào thế giới ảo. Trong không gian mạng, người ta tán tỉnh, yêu nhau, kết hôn… Thậm chí, các chính khách khi muốn bày tỏ cử chỉ đẹp trước công chúng có thể hôn những đứa bé ảo thay vì trẻ con thực. Web sẽ không chỉ còn là một công cụ để mua hàng ngay quảng cáo mà thực sự là một công cụ để thực hiện mọi loại hoạt động khác nhau trong sinh hoạt hàng ngày.

Điều này đang diễn ra với trò chơi mô phỏng cuộc sống Second Life, do một công ty ở San Francisco (Mỹ) cung cấp, hiện có tới 1,2 triệu người tham gia. Trong game này, người ta có thể thấy một số hãng may mặc tên tuổi tham gia kinh doanh hàng ảo. Các buổi trình diễn thời trang, thi người đẹp… diễn ra không khác gì sự kiện tương tự ngoài đời, thậm chí còn hấp dẫn hơn. Gần đây, một nhà mốt ở Milan (Italy) còn thường xuyên vào Second Life để theo dõi những ý tưởng thời trang mới. Có lần bắt gặp một thiết kế rất ấn tượng, họ đã liên hệ với chủ mẫu này trong game và mời ký hợp đồng thực sự. Tác giả hóa ra không phải nhà thiết kế chuyên nghiệp mà chỉ là một giáo viên. Người này sau đó đã thôi việc giảng dạy và trở thành chuyên gia thời trang thực thụ. Đây là ví dụ tiêu biểu cho cái gọi là “sự xuất khẩu giá trị từ thế giới ảo ra thế giới thực”.

Hiện tại trên thế giới có khoảng 50 triệu blogger (người có trang web cá nhân). Các dạng wiki thì có tới trên một triệu mục thông tin. Thêm vào đó là khoảng 35 triệu người chơi game và 70 triệu thanh thiếu niên tham gia mạng xã hội trên MySpace. Với một nền tảng như vậy, nhiều người tin rằng các hoạt động trong thế giới ảo sẽ thống trị xã hội tương lai.

(VnExpress/Economic Times)

 

Công nghệ web 2.0 – phần 2 Tháng tám 30, 2008

Chuyên mục: Công nghệ Web — riasweb @ 10:41 sáng
Tags:

Được xem là một cuộc cách mạng trên thế giới mạng, thế hệ web mới có những thay đổi quan trọng không chỉ ở nền tảng công nghệ mà còn cả ở cách thức sử dụng – hình thành nên môi trường cộng đồng, ở đó mọi người cùng tham gia đóng góp cho xã hội “ảo” chứ không chỉ “duyệt và xem”.Được xem là một cuộc cách mạng trên thế giới mạng, thế hệ web mới có những thay đổi quan trọng không chỉ ở nền tảng công nghệ mà còn cả ở cách thức sử dụng – hình thành nên môi trường cộng đồng, ở đó mọi người cùng tham gia đóng góp cho xã hội “ảo” chứ không chỉ “duyệt và xem”.

Web 2.0 là gì? Làm sao phân biệt đâu là Web 1.0 đâu là Web 2.0? Thuật ngữ “Web 2.0″ đang trở nên thịnh hành và có phần được lăng xê quá mức. Thực chất, Web 2.0 có nghĩa là sử dụng web đúng với bản chất và khả năng của nó!

Mục tiêu đầu tiên của những người tiên phong xây dựng Internet là nhằm kết nối các nhà nghiên cứu và các máy tính của họ với nhau để có thể chia sẻ thông tin hiệu quả. Khi bổ sung World Wide Web (năm 1990), Tim Berners-Lee cũng nhằm mục tiêu tạo phương tiện cho phép người dùng tự do đưa thông tin lên Internet và dễ dàng chia sẻ với mọi người (trình duyệt web đầu tiên do Berners-Lee viết bao gồm cả công cụ soạn thảo trang web). Tuy nhiên, sau đó web đã phát triển theo hướng hơi khác mục tiêu ban đầu.

Tuy có một số ngoại lệ nhưng thế giới Web 1.0 (thế hệ web trước Web 2.0) chủ yếu gồm các website “đóng” của các hãng thông tấn hay các công ty nhằm mục đích tiếp cận độc giả hay khách hàng hiệu quả hơn. Nó là phương tiện phát tin hơn là phương tiện chia sẻ thông tin. Chỉ đến gần đây, với sự xuất hiện của nhiều kỹ thuật mới như blog (hay weblog), wiki… web mới trở nên có tính cộng đồng (và cộng tác) hơn và trở nên gần hơn với sự kỳ vọng và khả năng thực sự của nó.

KHÁI NIỆM

Khái niệm Web 2.0 đầu tiên được Dale Dougherty, phó chủ tịch của OReilly Media, đưa ra tại hội thảo Web 2.0 lần thứ nhất do OReilly Media và MediaLive International tổ chức vào tháng 10/2004. Dougherty không đưa ra định nghĩa mà chỉ dùng các ví dụ so sánh phân biệt Web 1.0 và Web 2.0: “DoubleClick là Web 1.0; Google AdSense là Web 2.0. Ofoto là Web 1.0; Flickr là Web 2.0. Britannica Online là Web 1.0; Wikipedia là Web 2.0. v.v…”. Sau đó Tim OReilly, chủ tịch kiêm giám đốc điều hành OReilly Media, đã đúc kết lại 7 đặc tính của Web 2.0:

1. Web có vai trò nền tảng, có thể chạy mọi ứng dụng

2. Tập hợp trí tuệ cộng đồng

3. Dữ liệu có vai trò then chốt

5. Phần mềm được cung cấp ở dạng dịch vụ web và được cập nhật không ngừng

4. Phát triển ứng dụng dễ dàng và nhanh chóng

6. Phần mềm có thể chạy trên nhiều thiết bị

7. Giao diện ứng dụng phong phú

Thoạt đầu, Web 2.0 được chú trọng tới yếu tố công nghệ, nhấn mạnh tới vai trò nền tảng ứng dụng. Nhưng đến hội thảo Web 2.0 lần 2 tổ chức vào tháng 10/2005, Web 2.0 được nhấn mạnh đến tính chất sâu xa hơn – yếu tố cộng đồng.

CÔNG NGHỆ

Thực tế, ứng dụng trên web là thành phần rất quan trọng của Web 2.0. Hàng loạt công nghệ mới được phát triển nhằm làm cho ứng dụng trên web “mạnh” hơn, nhanh hơn và dễ sử dụng hơn, được xem là nền tảng của Web 2.0.

Kiến trúc công nghệ của Web 2.0 hiện vẫn đang phát triển nhưng cơ bản bao gồm: phần mềm máy chủ, cơ chế cung cấp nội dung, giao thức truyền thông, trình duyệt và ứng dụng.

Cung cấp nội dung

Bước phát triển đầu tiên và quan trọng nhất hướng đến Web 2.0 đó là cơ chế cung cấp nội dung, sử dụng các giao thức chuẩn hoá để cho phép người dùng sử dụng thông tin theo cách của mình (nghĩa là có khả năng tùy biến thông tin). Có nhiều giao thức được phát triển để cung cấp nội dung như RSS, RDF và Atom, tất cả đều dựa trên XML. Ngoài ra còn có các giao thức đặc biệt như FOAF và XFN dùng để mở rộng tính năng của website hay cho phép người dùng tương tác.

Dịch vụ web

Các giao thức truyền thông 2 chiều là một trong những thành phần then chốt của kiến trúc Web 2.0. Có hai loại giao thức chính là REST và SOAP. REST (Representation State Transfer) là dạng yêu cầu dịch vụ web mà máy khách truyền đi trạng thái của tất cả giao dịch; còn SOAP (Simple Object Access Protocol) thì phụ thuộc máy chủ trong việc duy trì thông tin trạng thái. Với cả hai loại, dịch vụ web đều được gọi qua API. Ngôn ngữ chung của dịch vụ web là XML, nhưng có thể có ngoại lệ.

Một ví dụ điển hình của giao thức truyền thông thế hệ mới là Object Properties Broadcasting Protocol do Chris Dockree phát triển. Giao thức này cho phép các đối tượng ảo (tồn tại trên web) tự biết chúng “là gì và có thể làm gì”, nhờ vậy có thể tự liên lạc với nhau khi cần.

Phần mềm máy chủ

Web 2.0 được xây dựng trên kiến trúc web thế hệ trước nhưng chú trọng hơn đến phần mềm làm việc ở “hậu trường”. Cơ chế cung cấp nội dung chỉ khác phương thức cấp phát nội dung động (của Web 1.0) về danh nghĩa, tuy nhiên dịch vụ web yêu cầu tiến trình làm việc và dữ liệu chặt chẽ hơn.

Các giải pháp phát triển theo hướng Web 2.0 hiện nay có thể phân làm 2 loại: hoặc xây dựng hầu hết tính năng trên một nền tảng máy chủ duy nhất; hoặc xây dựng ứng dụng “gắn thêm” cho máy chủ web, có sử dụng giao tiếp API.

CỘNG ĐỒNG

NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA WEB 2.0
• Quá kỳ vọng: Nhiều người cho rằng Web 2.0 sẽ đặt dấu chấm hết cho ứng dụng cài đặt trên máy tính (ứng dụng desktop) và là giải pháp cho mọi vấn đề trong lĩnh vực phần mềm. Các ứng dụng Web 2.0 yêu cầu kết nối Internet ổn định và nhanh để làm việc. Trừ khi kết nối băng rộng được phủ khắp, còn không thì Web 2.0 chỉ là một bổ sung cho cách thức chúng ta làm việc (bên cạnh ứng dụng desktop).

• Quá đơn giản: Web 2.0=Ajax! Cũng như Web 2.0, Ajax được kỳ vọng quá nhiều, thậm chí nhiều người còn đánh đồng Ajax với Web 2.0. Thực chất, Ajax chỉ là một trong số nhiều công nghệ nền tảng của Web 2.0 và Ajax còn có những hạn chế.
• Quá chú trọng công nghệ: RSS, SOA, Ajax… hàng loạt công nghệ nổi đình nổi đám gần đây được gắn liền với Web 2.0. Người ta hăm hở áp dụng các công nghệ mới mà không quan tâm đến các tính chất quan trọng hơn: truyền thông, cộng tác, trí tuệ cộng đồng.

Công nghệ chỉ là “bề nổi” của Web 2.0, chính cộng đồng người dùng mới là yếu tố nền tảng tạo nên thế hệ web mới. Việc chuyển từ “duyệt và xem” sang “tham gia” là cuộc cách mạng thực sự, dĩ nhiên nhờ có sự phát triển công nghệ giúp hiện thực khả năng này nhưng ở đây muốn nhấn mạnh đến hành vi của người dùng đối với web.

Hiện trạng phổ biến của các website thế hệ 1.0 đó là chứa nhiều thứ phiền toái và làm việc chậm chạp, dường như luôn muốn gửi đến người dùng thông điệp: đây là website của chúng tôi chứ không phải của bạn. Căn nguyên của vấn đề có thể là do chủ sở hữu các website cảm thấy họ “cho không” cái gì đó. Đôi khi chủ sở hữu website cho rằng càng làm khó người dùng thì họ càng được lợi! Điển hình như một số site cho bạn đọc đoạn đầu của bài viết rồi yêu cầu bạn phải đăng ký (có phí hay không) để đọc nốt phần còn lại.Dĩ nhiên, với sự phổ biến của các phần mềm máy chủ, trong đó có cả phần mềm miễn phí như Apache thì người dùng có thể đưa lên web bất kỳ thông tin gì. Tuy nhiên có nhiều yếu tố cản trở: kỹ năng tạo website, hạn chế của nhà cung cấp dịch vụ Internet, việc bảo mật và kiểm duyệt…

Về cơ bản, Web 2.0 trao quyền nhiều hơn cho người dùng và tạo nên môi trường liên kết chặt chẽ các cá nhân với nhau. Giờ đây có nhiều ví dụ cho thấy cộng đồng người dùng có thể đóng góp thông tin giá trị khi họ có phương tiện thích hợp. Wikipedia có lẽ là ví dụ nổi tiếng nhất. Tuy có nhiều học giả không đánh giá cao Wikipedia, nhưng họ quên một điều quan trọng: nó đủ tốt, miễn phí và nhiều người có thể đọc. Ngoài ra còn có những ví dụ khác như các site Reddit và Digg để cho người dùng quyết định thông tin gì là quan trọng, hay del.icio.us cho phép mọi người chia sẻ những địa chỉ web hay.

Web 2.0 cho phép mọi người có thể đưa lên mạng bất cứ thông tin gì. Với số lượng người tham gia rất lớn, đến mức độ nào đó, qua quá trình sàng lọc, thông tin sẽ trở nên vô cùng giá trị. Ở đây có sự tương đồng với thuyết chọn lọc tự nhiên.

KẾT LUẬN

Thật sự, Web 2.0 không phải là cái gì đó hoàn toàn mới mà là sự phát triển từ web hiện tại. Nó vẫn là web như chúng ta dùng lâu nay, chỉ có điều giờ đây chúng ta làm việc với web theo cách khác. Các website không còn là những “ốc đảo” mà trở thành những nguồn thông tin và chức năng, hình thành nên môi trường điện toán phục vụ các ứng dụng web và người dùng.

Không phải là viễn cảnh, Web 2.0 đã hiện hữu quanh chúng ta với hàng loạt website thế hệ mới. Xu hướng chuyển đổi sang Web 2.0 đang diễn ra mạnh mẽ và là xu thế tất yếu.

(www.pcworld.com.vn)

 

Công nghệ web 2.0 – phần 1 Tháng tám 30, 2008

Chuyên mục: Công nghệ Web — riasweb @ 10:24 sáng
Tags:

Hôm nay, web 2.0 không còn là một khái niệm khó hiểu do một nhóm những người “cấp tiến” nắm giữ những bí quyết nữa. Nó đã trở thành câu chuyện hàng ngày trên các mặt báo và cả trong… quán café. Cách đây vài hôm tôi có nghe được câu chuyện của hai người trong bữa ăn trưa thế này:

A: …thế còn web 2.0 là thế nào nhỉ, nghe nói hay lắm phải không?

B: Ah, web 2.0 là do bây giờ đường truyền mạnh nên đưa mọi thứ lên web…

Qua câu chuyện có thể thấy người ta bắt đầu không thỏa mãn với cái web hiện tại. Không có gì ngạc nhiên cả vì ngày nay hầu như không người sử dụng web nào không “đụng” tới một ứng dụng Web 2.0 và một khi đã dùng rồi thì họ sẽ tự hỏi sao các trang web còn lại không làm được như vậy. Ở phía các doanh nghiệp, một trong số các khách hàng lớn nhất của công ty tôi cũng đang có một “big plan” chuyển toàn bộ ứng dụng nghiệp vụ của họ lên chuẩn web 2.0…

Tôi cũng không nghĩ anh B giải thích sai về Web 2.0 nhưng dường như mỗi người đều cố diễn giải về web 2.0 theo cách nghĩ riêng của mình. Ngay cả khi bạn đọc kỹ từng câu, từng chữ bài viết của Tim O’Reilly (và cả các bài khác trên blog này :) ) thì tôi cũng dám đoan chắc là bạn khó có thể hiểu web 2.0 thực sự là gì. Nó là mạng xã hội, là trí tuệ tập thể, là blog, là AJAX, mashup, tag hay là một giao diện bóng bảy?

Sai lầm lớn nhất của giới báo chí và những người cổ vũ cho web 2.0 là dùng hiện tượng giải thích cho nguyên nhân. Tất cả những cái như mạng xã hội, blog… chỉ là kết quả của một quá trình thay đổi về tư duy đã diễn ra trong những năm gần đây. Web 2.0 là có thực nhưng nó không phải là cái mà bạn có thể định nghĩa thông qua một vài ví dụ hay vài mỹ từ. Web 2.0 cũng không hẳn là cái mà bạn chỉ biết được khi bạn thấy nó. Thật không may, những ngôn từ hoa mỹ, những khẩu hiệu giật gân thường phủ bóng lên những điều quan trọng nhất. Sàng lọc lại, đây là những cái mà chúng ta nên hiểu về bản chất của Web 2.0:

  • Web 2.0 là tự do về dữ liệu: Có rất nhiều bạn nói rằng họ không hiểu rõ về web API, RSS, mashup, tag… Nói chung đó là những công cụ giúp bạn lấy dữ liệu từ những nguồn khác nhau trên web mà không cần phải vào trang web đó. Dùng API của Flickr bạn có thể xem các hình ảnh trên trang web này mà không cần phải vào Flickr. Dữ liệu ở trên web luôn có rất nhiều và trước kia người ta không thể lấy về dùng một cách tự động và tiện lợi. Web 2.0 đã thỏa mãn giấc mơ đó.
  • Web 2.0 là băng thông rộng: Web 2.0 tận dụng việc phổ biến của đường truyền băng thông rộng như ADSL, cáp quang… Bạn thử tưởng tượng việc xem một đoạn video trên YouTube với kết nối dial-up sẽ thế nào? Nếu không có băng thông rộng thì hầu hết các ứng dụng Web 2.0 sẽ chỉ có ý nghĩa trong một trường thí nghiệm.
  • Web 2.0 là sự liên kết: Web 2.0 là sự liên kết giữa người với người (MySpace), giữa các từ khóa, khái niệm với nhau (Wikipedia), giữa các website (Mashup)… Bản chất, Web 2.0 thay đổi cách liên kết từ quan hệ một-nhiều (one-to-many, tức là từ một website tới những người truy cập) sang quan hệ nhiều-nhiều (many-to-many) bằng các mối liên kết mới.
  • Web 2.0 đặt con người lên trên công nghệ: Tuần báo Time đã bầu “person of the year” năm 2006 là YOU. Tại sao? Bạn, con người, chính là trung tâm của web 2.0, và theo báo Time, cuộc cách mạng Web 2.0 là tâm điểm của năm 2006! Đây cũng chính là đặc điểm dễ thấy nhất của Web 2.0, nó hiểu người dùng cần gì trên Web và thỏa mãn họ.
  • Web 2.0 cho phép người dùng “sử dụng” dữ liệu chứ không chỉ “lấy” dữ liệu: Công đầu của công nghệ AJAX không phải là làm cho các ứng dụng web dùng giống như các ứng dụng desktop mà giúp người dùng dễ dàng thay đổi, thêm, bớt dữ liệu tùy ý trên web thay vì chỉ có thể “đọc” chúng như những bản tin.
  • Web 2.0 làm cho người ta không còn nghĩ Web chỉ là một dạng báo điện tử hay một kiểu TV khác: Hmm, đã có lúc người ta coi Web là một dạng truyền thông như báo chí hay TV vì tính một chiều của nó. Nhưng web 2.0 cho thấy giờ đây có những cái bạn chỉ có thể làm thông qua Web chứ không thể qua báo chí hay TV. Tính tương tác mà Web 2.0 đem lại làm cho Web vượt qua khái niệm một trang báo điện tử: nó sẽ trở thành một phương tiện giao tiếp hơn là một công cụ tuyên truyền.

Cuối cùng, nếu bạn đã hiểu bản chất web 2.0 là gì thì điều quan trọng nhất khi làm một trang web 2.0 là hãy tưởng tượng ra cái gì bạn không thể làm được nếu không có WEB.

(www.web2vietnam.com)

 

Khái niệm về World Wide Web Tháng tám 30, 2008

Chuyên mục: Công nghệ Web — riasweb @ 10:02 sáng

World Wide Web, gọi tắt là Web hoặc WWW, mạng lưới toàn cầu là một không gian thông tin toàn cầu mà mọi người có thể truy nhập (đọc và viết) qua các máy tính nối với mạng Internet. Thuật ngữ này thường được hiểu nhầm là từ đồng nghĩa với chính thuật ngữ Internet. Nhưng Web thực ra chỉ là một trong các dịch vụ chạy trên Internet, chẳng hạn như dịch vụ thư điện tử. Web được phát minh và đưa vào sử dụng vào khoảng năm 1990, 1991 bởi viện sĩ Viện Hàn lâm Anh Tim Berners-Lee và Robert Cailliau (Bỉ) tại CERN, Geneva, Switzerland

Các tài liệu trên World Wide Web được lưu trữ trong một hệ thống siêu văn bản (hypertext), đặt tại các máy tính trong mạng Internet. Người dùng phải sử dụng một chương trình được gọi là trình duyệt web (web browser) để xem siêu văn bản. Chương trình này sẽ nhận thông tin (documents) tại ô địa chỉ (address) do người sử dụng yêu cầu (thông tin trong ô địa chỉ được gọi là tên miền (domain name)), rồi sau đó chương trình sẽ tự động gửi thông tin đến máy chủ (web server) và hiển thị trên màn hình máy tính của người xem. Người dùng có thể theo các liên kết siêu văn bản (hyperlink) trên mỗi trang web để nối với các tài liệu khác hoặc gửi thông tin phản hồi theo máy chủ trong một quá trình tương tác. Hoạt động truy tìm theo các siêu liên kết thường được gọi là duyệt Web.

Quá trình này cho phép người dùng có thể lướt các trang web để lấy thông tin. Tuy nhiên độ chính xác và chứng thực của thông tin không được đảm bảo.

(wikipedia)